Chuyển dịch năng lượng Việt Nam – các cơ hội và thách thức
Cam kết tại Hội nghị COP 21 về mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và tham gia Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng là các mốc lịch sử để Việt Nam dịch chuyển sang năng lượng sạch và nền kinh tế xanh, vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội, vừa cùng với thế giới đáp ứng các mục tiêu khí hậu toàn cầu. Đứng trước cơ hội lịch sử, đón đầu hợp tác này, Việt Nam đối mặt với những thách thức gì?

(Nguồn: VOV)
Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng: cơ chế hợp tác mới
Những hậu quả mà biến đổi khí hậu gây ra cho Trái Đất đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, điển hình là tình trạng nắng nóng, hạn hán dữ dội, khan hiếm nước, cháy rừng, lũ lụt, bão mạnh và suy giảm đa dạng sinh học v.v. diễn ra ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới. Một trong những nguyên nhân chính là lượng phát thải khí nhà kính (do sử dụng nhiên liệu hóa thạch) quá lớn, bao phủ Trái Đất và giữ lại nhiệt mặt trời, dẫn đến tình trạng nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu.
Theo các nhà khoa học, nếu hạn chế được mức tăng nhiệt độ toàn cầu không vượt quá 1,5°C (so với thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp 1850-1900) sẽ giúp thế giới tránh được những tác động tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu và duy trì một môi trường khí hậu mà các thế hệ hiện tại và tương lai có thể sống được.

Hình 1. Mức độ mà thế hệ hiện nay và các thế hệ tương lai trải nghiệm một thế giới khác biệt và nóng hơn ra sao là tùy thuộc vào các lựa chọn của chúng ta bây giờ và trong ngắn hạn [1]
Tại Hội nghị lần thứ 21 của các Bên tham gia Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP21), Thỏa thuận Paris được 195 nước thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 2015 với những nội dung chính như hạn chế tình trạng nóng lên của Trái Đất ở mức dưới 2°C vào năm 2100 và nỗ lực cho một mục tiêu tham vọng hơn là 1,5°C so với thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp.

Hình 2. Các nội dung chính của Thỏa thuận Paris
Con đường để đạt được các mục tiêu của Thỏa thuận Paris là đầy thách thức, đòi hỏi sự cam kết, hợp tác và nỗ lực cao nhất của các nước một cách nhất quán và liên tục trong dài hạn. Đặc biệt quan trọng là sự hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ của các nước giàu, các nước phát triển cho các nước đang phát triển và là các nước đang phụ thuộc nhiều vào sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Xuất phát từ thực tế đó, các nước phát triển và đang phát triển đã có các thảo luận, đàm phán để hình thành nên các cơ chế hợp tác mà nổi bật trong số đó là Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (Just Energy Transition Partnerships - JETP).
JETP là cơ chế hợp tác tài chính được hình thành trong những năm gần đây nhằm hỗ trợ một số nền kinh tế mới nổi đang lệ thuộc nhiều vào than đá thực hiện quá trình chuyển dịch công bằng. Mục đích là hỗ trợ các nước này tự xác định lộ trình từ bỏ sản xuất và tiêu thụ than đá để chuyển sang năng lượng sạch, có chú trọng đến giải quyết các tác động xã hội do quá trình chuyển dịch năng lượng, chẳng hạn như đào tạo và tạo công ăn việc làm thay thế cho các lực lượng lao động chịu ảnh hưởng và mang lại các cơ hội kinh tế mới cho các cộng đồng bị tác động.
Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng đầu tiên được thiết lập vào tháng 11 năm 2021 giữa Nam Phi và nhóm các đối tác quốc tế gồm Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Liên minh Châu Âu tại Hội nghị COP 26 ở Glasgow, Anh. Theo đó, các đối tác quốc tế hứa cung cấp gói tài chính 8,5 tỷ USD cho Nam Phi.
Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng thứ hai là giữa Indonesia và các đối tác gồm Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada, Đan Mạch, Liên minh Châu Âu, Pháp, Đức, Italia, Na Uy, Vương quốc Anh, được công bố tại Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) vào tháng 11 năm 2022 tại Bali, Indonesia, với gói tài chính 20 tỷ USD.
Việt Nam là nước thứ 3 thiết lập Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng vào tháng 12/2022 với các đối tác quốc tế gồm Liên minh Châu Âu, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Ý, Canada, Đan Mạch và Na Uy, với gói tài chính 15,5 tỷ USD.
Công cuộc chuyển dịch năng lượng: Tự mình thắp đuốc lên mà đi
Không có bản đồ lập sẵn cho chuyển dịch năng lượng. Tùy thuộc vào điều kiện đặc thù của mỗi nước, vào mức độ và thời gian chuyển dịch cam kết và tùy thuộc vào sự hỗ trợ và hợp tác của các đối tác quốc tế mà các nước tự xác định lộ trình cho riêng mình.
Cả 3 thỏa thuận Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng đều mới ở bước ban đầu. Ngay cả Nam Phi cũng chỉ mới dừng ở mức ban hành Kế hoạch đầu tư cho chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP Investment Plan) vào tháng 10 năm 2022. Theo bản kế hoạch đầu tư, Nam Phi đề ra khoản tài chính cần thiết là 98 tỷ USD cho giai đoạn 2023 – 2027 để đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên của nước này. Đây là số tiền cao hơn nhiều khoản tài chính mà Nam Phi được hỗ trợ theo JETP.
Điều này cho thấy nhu cầu vốn đầu tư cho chuyển dịch năng lượng của các nước sẽ rất lớn. Còn khoản tài chính của các đối tác quốc tế theo JETP (thông thường ở dạng: khoản tài trợ, vay ưu đãi, vay thương mại) chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, mang tính chất xúc tác và tạo đà thúc đẩy quá trình chuyển dịch.
Nhu cầu vốn rất lớn đòi hỏi từng nước phải có chiến lược, cơ chế, chính sách thu hút nguồn vốn từ khu vực khối tư nhân, từ các tổ chức tài chính và các ngân hàng trong và ngoài nước để đầu tư vào năng lượng tái tạo, cơ sở hạ tầng hệ thống điện và phát triển công nghiệp chế tạo thiết bị năng lượng tái tạo, thiết bị lưu trữ năng lượng.
Huy động được nguồn vốn là thực sự cần thiết nhưng trên hết, chuyển dịch năng lượng công bằng ở mỗi nước đòi hỏi phải thiết lập hệ thống quản trị có quyền lực và có cấu trúc phù hợp ở cấp trung ương nhằm bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thông suốt, giám sát và đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm giải trình ở các cấp, các ngành tham gia thực thi quá trình chuyển dịch.
Việc xây dựng được các chiến lược, đề án, kế hoạch và lộ trình phù hợp với các mục tiêu khí hậu cam kết, vừa đảm bảo an ninh năng lượng là bài toán đầy thách thức đối với từng nước.
Bài học từ Nam Phi vẫn đang còn mang tính thời sự. Là nước phụ thuộc chủ yếu vào than đá với các nguồn điện than chiếm khoảng 80%, Nam Phi tham gia Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng từ tháng 11 năm 2021. Tuy nhiên, hiện tại Nam Phi lại đang ở trong cuộc khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng. Trong năm 2022 và kéo dài cho đến nay, Nam Phi bị thiếu điện trầm trọng, thường xuyên sa thải phụ tải và cắt điện luân phiên. Các nguyên nhân chính là vấn nạn tham nhũng trong ngành năng lượng, đặc biệt là ở lĩnh vực đầu tư xây dựng; một số nhà máy điện than bị ngừng hoạt động, số khác bị dừng máy kéo dài do công tác bảo trì bị trì hoãn; ngoài ra, từ năm 2014 đến năm 2022, ngành điện Nam Phi không ký thêm các hợp đồng mới nào để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo [2].
Chuyển dịch năng lượng Việt Nam: cơ hội và thách thức
Cam kết tại COP 21 và tham gia Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng là các dấu mốc lịch sử để Việt Nam dịch chuyển sang nền kinh tế xanh, vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội, vừa đáp ứng các mục tiêu khí hậu cùng các nước tiên tiến trên thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam chứng minh với thế giới về vai trò và đóng góp của Việt Nam, một nước đang phát triển và năng động, tham gia tích cực và chủ động vào giải quyết các vấn đề trọng tâm mang tính toàn cầu.
Ở trong nước, đây là cơ hội để Việt Nam quy hoạch tổng thể ngành năng lượng có tính bao trùm, toàn diện; xác định rõ bản chất xanh, sạch của các loại hình năng lượng; đánh giá đầy đủ các cơ hội khai thác tiềm năng và đưa ra danh mục năng lượng với tỷ trọng và lộ trình thích hợp, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng, giá thành hợp lý và đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Từ đó sẽ mở ra môi trường thuận lợi, hấp dẫn để Việt Nam thu hút nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ tài chính, hợp tác về kỹ thuật và công nghệ từ các tổ chức quốc tế và các nước phát triển trên thế giới.
Cơ hội càng cao, thách thức cũng càng lớn. Chuyển dịch năng lượng với các mục tiêu cam kết khí hậu tham vọng đang đặt ra cho Việt Nam các thách thức sau đây.
-
Hệ thống quản trị chuyển dịch năng lượng quốc gia: Chuyển dịch năng lượng đòi hỏi sự thay đổi có hệ thống về chính sách; về nhận thức và hành vi của các cá nhân, các doanh nghiệp và của xã hội; đòi hỏi phải cải tổ và tái cơ cấu các ngành kinh tế - xã hội. Đây là quá trình có tính liên tục, kế thừa qua nhiều thế hệ. Vì vậy, chuyển dịch năng lượng cần phải được dẫn dắt, định hướng và quản lý, giám sát bởi một hệ thống quản trị thích hợp được thiết lập ở cấp trung ương;
-
Thời gian chuyển dịch cam kết: Các nước trên thế giới đưa ra cam kết tại COP 21 về đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, là các nước đã đạt mức đỉnh phát thải từ những năm 1990 - 2000. Như vậy, họ có khoảng 50, 60 năm để giảm dần từ mức đỉnh phát thải xuống mức phát thải 0. Trong khi đó, Việt Nam dự kiến đạt mức đỉnh phát thải vào năm 2030 – 2035 và như vậy, với cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam chỉ có chưa đến 20 năm để chuyển dịch từ mức đỉnh xuống mức phát thải 0. Đây là thời hạn chuyển dịch vô cùng thách thức đối với Việt Nam;
-
Cải tổ và tái cấu trúc ngành năng lượng: Về cơ cấu ngành năng lượng, theo mục tiêu cam kết, Việt Nam sẽ giảm dần khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và gia tăng sử dụng năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, thủy điện). Hiện nay, một nguồn năng lượng khác đang là vấn đề thời sự nóng bỏng đối với chuyển dịch năng lượng, đó là điện hạt nhân. Điển hình là sự tranh luận của các nước (chẳng hạn Pháp và Đức) về việc có xem điện hạt nhân là năng lượng sạch hay không. Việt Nam cũng cần xác định quan điểm về điện hạt nhân để có kế hoạch phát triển phù hợp. Về các chủ thể tham gia quá trình chuyển dịch năng lượng, vai trò của khối tư nhân là rất cần thiết và quan trọng nên cần có cơ chế chính sách xác định rõ vai trò của họ đối với ngành năng lượng;
-
Khai thác, sử dụng hợp lý các tài nguyên quan trọng: Việt Nam là nước có tiềm năng rất lớn về năng lượng mặt trời, năng lượng gió, đặc biệt là gió ngoài khơi. Đối với các kim loại, khoáng chất được xem là thiết yếu cho chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo, Việt Nam có trữ lượng lớn về niken (3,6 triệu tấn) [3], đồng (1,87 triệu tấn) [3], bauxit nhôm (5,5 tỷ tấn) [4], đất hiếm (22 triệu tấn) [5] v.v… Vì vậy, Việt Nam cần xây dựng được cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên này;
-
Quy hoạch vùng thích ứng chuyển dịch năng lượng: Chuyển dịch năng lượng quốc gia cần được định hướng cho từng vùng phù hợp với tiềm năng tài nguyên và các điều kiện đặc thù kinh tế - xã hội của vùng. Chẳng hạn, có thể xem xét quy hoạch vùng kết hợp phát triển nông nghiệp và năng lượng tái tạo; quy hoạch vùng kết hợp năng lượng tái tạo và khai thác, tinh chế các quặng; quy hoạch vùng kết hợp năng lượng tái tạo và sản xuất nhiên liệu sạch (hydro, amonia, nhiên liệu sinh học); hoặc quy hoạch vùng phát triển công nghiệp chế tạo thiết bị năng lượng tái tạo, thiết bị lưu trữ năng lượng v.v…;
-
Huy động nguồn vốn cần thiết: Nguồn vốn cần cho chuyển dịch năng lượng là rất lớn, đòi hỏi phải xây dựng được các kế hoạch, đề án, dự án đầu tư để thu hút được các nguồn vốn tư nhân, từ các tập đoàn, các tổ chức tài chính, ngân hàng thương mại trong và ngoài nước;
-
Làm chủ kỹ thuật và công nghệ: Việt Nam là nước thụ hưởng các công nghệ từ các nước phát triển. Vì vậy, cần có cơ chế hợp tác hiệu quả để tranh thủ sự hỗ trợ và hợp tác quốc tế nhằm đào tạo phát triển nguồn nhân lực và tiếp nhận các kỹ thuật, công nghệ năng lượng mới. Đồng thời, cần hợp tác, nghiên cứu ứng dụng các công nghệ số vào quản lý hiệu quả các hệ thống năng lượng;
-
Thay đổi phương thức sản xuất truyền thống: Cần chuyển dịch các phương thức sản xuất truyền thống dựa trên nhiên liệu hóa thạch sang phương thức sản xuất sử dụng năng lượng sạch nhằm chuyển hóa sang nền kinh tế xanh. Điển hình là chuyển đổi các nhà máy điện đốt nhiên liệu hóa thạch sang đốt kèm và tiến tới đốt hoàn toàn bằng hydro, ammonia hoặc sinh khối; chuyển đổi các nhà máy sản xuất phân bón từ nhiên liệu hóa thạch sang sản xuất phân bón từ hydro xanh, để hỗ trợ xanh hóa ngành nông nghiệp với các sản phẩm có “dấu chân cac-bon” thấp;
-
Thay đổi hành vi cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng xã hội: Cần chuyển đổi nhận thức sang tư duy cùng phát triển trong mối tương quan với những bên liên quan và với môi trường, đồng thời gìn giữ môi trường sống cho các thế hệ tương lai. Cần thay đổi hành vi, giảm tiêu phí, tiết kiệm năng lượng, sống và làm việc hài hòa với hệ sinh thái, bảo vệ môi trường, xây dựng và phát triển nền kinh tế tuần hoàn.

Hình 3. Các thách thức đối với chuyển dịch năng lượng
Đứng trước các cơ hội và thách thức nêu trên, Việt Nam cần xây dựng và thực thi các nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; nhóm giải pháp về quy hoạch, phát triển vùng; nhóm giải pháp về tài chính; nhóm giải pháp về ứng dụng công nghệ năng lượng mới; nhóm giải pháp chuyển đổi số; và nhóm giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực, cùng với lộ trình thích hợp nhằm thúc đẩy bánh xe chuyển dịch năng lượng chuyển động hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Thực hiện: Trương Văn Thiện
Tài liệu tham khảo:
[1] IPCC.Synthesis report of the ICPP sixth assessment report (AR6), 2023.
[2] South Africa Energy Crisis at Critical Stage as Load-Shedding Continues. Power, March, 2023 (www.powermag.com).
[3] Thủ tướng Chính phủ, ”Quyết định số 910/QĐ-TTg ngày 25/7/2018 về việc Phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng vàng, đồng, niken, molipoden đến năm 2025, có xét đến năm 2035”.
[4] Thủ tướng Chính phủ, ”Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007 về việc Phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025”.
[5] Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bản tin (monre.gov.vn).