Các vấn đề trọng tâm trong bối cảnh phát triển năng lượng ASEAN 2023
Trong bối cảnh thế giới biến động về địa chính trị và khủng hoảng năng lượng toàn cầu, hướng phát triển nào cho ngành năng lượng của mỗi nước ASEAN nói riêng và toàn khối nói chung là vấn đề mang tính cấp thiết. Báo cáo Triển vọng năng lượng ASEAN 2023 của Trung tâm năng lượng ASEAN nêu bật 4 vấn đề chính mà các nước ASEAN cần chú trọng để phát triển ngành năng lượng.

Vấn đề trọng tâm 1 - Đặt lại vấn đề an ninh năng lượng của ASEAN trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu
Cuộc xung đột giữa Nga và Ukraina đã gây ra ảnh hưởng tiêu cực tới chuỗi cung ứng nhiên liệu hóa thạch toàn cầu, đặc biệt là đối với dầu thô, các sản phẩm từ dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. Giá nhiên liệu hóa thạch tăng cao cũng kéo theo sự tăng giá các mặt hàng thiết yếu khác trên thị trường.
Các quốc gia ASEAN có thị phần đáng kể trên thị trường nhiên liệu hóa thạch thế giới. Về thương mại khí đốt tự nhiên, Malaysia, Indonesia, Brunei Darussalam và Myanmar đã được định vị là các quốc gia xuất khẩu khí đốt tự nhiên lớn ra thị trường thế giới (xuất siêu). ASEAN đã xuất khẩu ra thị trường thế giới 25,5 tỷ USD khí đốt tự nhiên vào năm 2021, trong đó Malaysia và Indonesia chiếm 79% tổng lượng xuất khẩu. Malaysia xuất siêu 9,3 tỷ USD khí đốt tự nhiên trong năm 2021, trong khi Indonesia, Brunei Darussalam và Myanmar lần lượt ghi nhận 3,4 tỷ USD, 3,3 tỷ USD và 3 tỷ USD. Ngược lại, các quốc gia ASEAN khác cũng đã nhập khẩu một lượng lớn khí tự nhiên. Năm 2021, kim ngạch nhập khẩu khí tự nhiên của ASEAN trên thị trường thế giới là 19,8 tỷ USD, trong đó Thái Lan và Singapore chiếm 59% tổng kim ngạch nhập khẩu (Hình 1).
Trái ngược với khí đốt tự nhiên, ASEAN đã trở thành nhà nhập khẩu ròng dầu mỏ kể từ trước năm 2005 và dự kiến sẽ trở thành nhà nhập khẩu ròng khí đốt và than đá lần lượt vào năm 2025 và 2039 do trữ lượng ngày càng giảm và nhu cầu tăng cao.

Hình 1. Cân bằng xuất nhập khẩu khí tự nhiên năm 2021 của các nước ASEAN. (Nguồn: ASEAN Centre for Energy - ACE)
Tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu hiện nay được cho là vẫn trong tầm kiểm soát của các nền kinh tế ASEAN. GDP trung bình của ASEAN năm 2023 được dự báo tăng trưởng 5,2%, cao hơn mức tăng trưởng năm 2022 (4,9%). Nó cho thấy tiến độ phục hồi sau COVID-19 vẫn đang đi đúng hướng và không bị ảnh hưởng đáng kể bởi cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu. Tuy nhiên, Singapore được dự đoán sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP năm 2023 giảm xuống -1,1% so với năm trước. Tương tự, tăng trưởng GDP của Campuchia và Malaysia cũng giảm -0,6% so với năm trước do các quốc gia này phụ thuộc nhiều hơn vào dầu mỏ và than đá nhập khẩu từ chuỗi cung ứng toàn cầu.
Các nước ASEAN đang tăng cường hợp tác khu vực trong khuôn khổ các sáng kiến như Lưới điện ASEAN (APG – ASEAN Power Grid), Đường ống dẫn khí đốt xuyên ASEAN (TAGP – Trans-ASEAN Gas Pipeline) và Hiệp định An ninh Dầu khí ASEAN (APSA – ASEAN Petroleum Security Agreement). Sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc hoạch định chiến lược an ninh năng lượng dài hạn của mỗi quốc gia và của cả ASEAN.
Tuy nhiên, việc thiết kế lại chính sách an ninh năng lượng của ASEAN không chỉ phụ thuộc vào vị thế của ASEAN trong chuỗi cung ứng nhiên liệu hóa thạch toàn cầu mà còn tùy thuộc vào đặc trưng thương mại của từng loại nhiên liệu hóa thạch. Do đó, sự đa dạng hóa dòng chảy thương mại năng lượng của ASEAN trong chuỗi cung ứng nhiên liệu hóa thạch toàn cầu cần phải được ưu tiên. Ngoài ra, các hiệu ứng tác động lan tỏa của nhiên liệu hóa thạch đối với các ngành liên quan cũng cần được xem xét.
Vấn đề trọng tâm 2 - Cam kết mang tính toàn cầu của ASEAN về chuyển dịch năng lượng
Hầu hết các nước ASEAN đều cam kết trung hòa cacbon hoặc phát thải ròng bằng không vào năm 2050. Bảng dưới đây thể hiện mục tiêu phát thải của các quốc gia ASEAN.
Bảng 1. Mục tiêu giảm phát thải của các quốc gia ASEAN (Nguồn: ACE)
|
Tên nước
|
Mục tiêu giảm phát thải
|
Trung hòa Cacbon/ Phát thải ròng bằng không
|
|
Vô điều kiện
|
Có điều kiện
|
|
Brunei Darussalam
|
Giảm 20% khí nhà kính tới năm 2030
|
N/A
|
Phát thải ròng bằng không tới năm 2050
|
|
Campuchia
|
N/A
|
Giảm 42% khí nhà kính hoặc 64,5 triệu tấn CO2 tương đương tới năm 2030
|
Trung hòa cacbon vào năm 2050
|
|
Indonesia
|
Giảm 31,89% khí nhà kính tới năm 2030
|
Giảm 43,2% khí nhà kính tới năm 2030
|
Phát thải ròng bằng không tới năm 2060
|
|
Lào
|
Giảm 60% khí nhà kính hoặc 62 triệu tấn CO2 tương đương.
|
N/A
|
Phát thải ròng bằng không tới năm 2050 có điều kiện
|
|
Malaysia
|
Giảm 45% cacbon cho toàn nền kinh tế vào năm 2030 so với mức năm 2005
|
N/A
|
Trung hòa cacbon vào năm 2050
|
|
Myanmar
|
Giảm phát thải 244,52 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030
|
Giảm phát thải 414,75 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030
|
Trung hòa cacbon vào năm 2050
|
|
Philippines
|
Giảm 2,71% khí nhà kính vào năm 2030
|
Giảm 72,29% khí nhà kính vào năm 2030
|
N/A
|
|
Singapore
|
Phát thải tối đa 60 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030
|
N/A
|
Phát thải ròng bằng không vào năm 2050
|
|
Thái Lan
|
Giảm 30% khí nhà kính tới năm 2030
|
Giảm 40% khí nhà kính tới năm 2030
|
Trung hòa cacbon vào năm 2050 và phát thải ròng bằng không vào năm 2065
|
|
Việt Nam
|
Giảm 15,8% khí nhà kính tới năm 2030
|
Giảm 43,5% khí nhà kính tới năm 2030
|
Phát thải ròng bằng không vào năm 2050
|
Cơ chế chuyển dịch năng lượng:
Đối tác Cơ chế Chuyển dịch Năng lượng Đông Nam Á (ETM), do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) khởi xướng tại Hội nghị COP26, đã đạt được những tiến triển đáng kể trong năm 2022. Hoạt động này hướng tới quá trình chuyển dịch năng lượng thí điểm ở Indonesia và Philippines, cả hai quốc gia này đều phụ thuộc rất nhiều vào năng lượng từ than đá. Vào tháng 11 năm 2022, ADB đã ký Biên bản ghi nhớ với công ty điện lực quốc doanh Cirebon Electric Power (CEP và Vụ Đầu tư Indonesia để đẩy nhanh việc chấm dứt hoạt động của nhà máy điện đốt than Cirebon-1 (660 MW) bằng cách cung cấp các ưu đãi về tài chính. Mô hình này có thể được áp dụng cho các nhà sản xuất điện độc lập (IPP) khác ở Indonesia và Châu Á Thái Bình Dương.
Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng:
Trong khối ASEAN, có hai nước tham gia Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) với các đối tác quốc tế là Indonesia và Việt Nam.
Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng giữa Indonesia và các đối tác gồm Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada, Đan Mạch, Liên minh Châu Âu, Pháp, Đức, Italia, Na Uy, Vương quốc Anh, được công bố tại Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) vào tháng 11 năm 2022 tại Bali, Indonesia, với gói tài chính 20 tỷ USD.
Việt Nam thiết lập Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng vào tháng 12/2022 với các đối tác quốc tế gồm Liên minh Châu Âu, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Ý, Canada, Đan Mạch và Na Uy, với gói tài chính 15,5 tỷ USD.
Vấn đề trọng tâm 3 – Theo sát các chính sách và mục tiêu năng lượng của ASEAN
Theo dự báo, trong năm 2023 ASEAN sẽ tăng nguồn cung năng lượng khoảng 5 – 10% so với năm 2020. Trong năm 2020, cơ cấu nguồn năng lượng chủ yếu là năng lượng hóa thạch, năng lượng tái tạo chỉ chiếm khoảng 14,2%. Với việc tiến hành các chính sách và các biện pháp nâng cao hiệu quả năng lượng, tỉ trọng năng lượng tái tạo dự báo sẽ tăng lên khoảng 113 triệu tấn dầu tương đương.
Ngành điện có đóng góp nổi bật trong chuyển dịch năng lượng cũng như duy trì an ninh năng lượng, đặc biệt là ổn định cung ứng điện. Đến năm 2023, tổng công suất phát điện dự kiến sẽ tăng khoảng 19% - 22%. Theo Quy hoạch phát triển Điện lực của các nước ASEAN, cơ cấu năng lượng tái tạo trong năm 2023 sẽ tăng 36,2% so với năm 2020. Năng lượng tái tạo vẫn sẽ được thống trị bởi thủy điện với mức tăng trưởng 28% so với năm 2020. Trong khi địa nhiệt, năng lượng mặt trời và gió cũng sẽ đóng góp và đạt công suất phát điện lần lượt là 48 TWh, 61 TWh và 6 TWh.
Các thành viên ASEAN đã đặt mục tiêu đạt được 23% tổng nguồn cung năng lượng sơ cấp (TPES) từ các nguồn tái tạo vào năm 2025. Để đạt được mục tiêu này, các quốc gia thành viên ASEAN cần bổ sung năng lượng tái tạo tối thiểu là 28 triệu tấn dầu tương đương vào nguồn cung cấp năng lượng sơ cấp. Theo đó, Singapore đang thúc đẩy các biện pháp tăng số lượng điện mặt trời áp mái trong khi Việt Nam đang đẩy mạnh sản xuất điện gió ngoài khơi và năng lượng mặt trời nổi.
Nói riêng về chính sách sắp tới của Việt Nam theo dự thảo Quy hoạch điện 8 mới nhất trình Bộ Công Thương vào tháng 12/2022 cho thấy sự cắt giảm các nhà máy điện than, giảm tốc độ phát triển điện mặt trời và tối đa hóa tiềm năng phát triển điện gió, thủy điện và điện sinh khối. Sau năm 2030, phần lớn các nhà máy điện than sẽ bắt đầu đốt kèm sinh khối từ 20% và sau đó dần dần tăng lên 100%. Bên cạnh đó, các nhà máy điện tuabin khí cũng sẽ được chuyển đổi sang đốt kèm với hydro.
Vấn đề trọng tâm 4 – Các ưu tiên năng lượng của ASEAN giai đoạn 2022-2023
Báo cáo [1] đã điểm lại các thành tựu trong năm chủ tịch của Campuchia – năm 2022 dựa trên 3 trụ cột: i) chính trị và an ninh; ii) kinh tế và iii) văn hóa – xã hội; đồng thời nhấn mạnh các vấn đề ưu tiên trong vai trò chủ tịch của Indonesia năm 2023 với chủ đề năm là: “ASEAN Tầm vóc: Tâm điểm của tăng trưởng”.
Có thể thấy các nước ASEAN bằng nội tại của mình vẫn đang đứng vững qua cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu hiện nay, đảm bảo an ninh năng lượng của mỗi quốc gia thành viên nói riêng và Hiệp hội các nước Đông Nam Á nói chung. Để góp phần chống biến đổi khí hậu, chuyển dịch năng lượng từ các nguồn năng lượng hóa thạch sang các nguồn năng lượng tái tạo là yêu cầu cấp thiết. Đây là thách thức và cũng là cơ hội để thay đổi và phát triển ngành năng lượng trong tương lai của mỗi quốc gia.
Lược dịch: Phạm Quốc Việt
Tham khảo:
[1] ACE (2023), Outlook on ASEAN Energy 2023. Trích dẫn ngày 20/03/2023, từ https://aseanenergy.org/outlook-on-asean-energy-2023/
[2] Bộ TNMT (2022), Đối tác quốc tế sẽ hỗ trợ Việt Nam 15,5 tỷ Đô la trong chuyển dịch năng lượng. Trích dẫn ngày 20/03/2023, từ https://monre.gov.vn/Pages/doi-tac-quoc-te-se-ho-tro-viet-nam-15,5-ty-do-la-trong-chuyen-dich-nang-luong.aspx
[3] Năng lượng cuộc sống (2023), Indonesia muốn chuyển sang năng lượng sạch, nhưng quá nhiều trở ngại. Trích ngày 20/03/2023, từ http://www.nangluongcuocsong.vn/tin-moi/indonesia-muon-chuyen-sang-nang-luong-sach-nhung-qua-nhieu-tro-ngai